Get the Flash Player to see this rotator.


IV. TỪ ĐIỂN VIỆT BỒ LA

Ngày cập nhật:(12/04/2011, 08:26, pm)

Lượt xem: 470


Ngay ở lời tựa "gửi độc giả" Đắc Lộ đã cho biết rằng sở dĩ ông soạn được cuốn từ điển này là vì thứ nhất ông đã lưu trú 12 năm cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. (Thực ra nếu nói xô bồ thì có vậy, nghĩa là từ năm 1624 tới 1630, tức 6 năm, rồi từ 1640 tới 1645 là 6 năm nữa. Nhưng trừ đi những thời gian đi đi về về, lúc ở Macao, khi phiêu dạt tới Phi Luật Tân, thì chỉ còn chừng trên dưới tám năm rưỡi). Thứ hai ông đã học tiếng Việt với cha Francois de Pina người Bồ là người ngoại quốc thứ nhất rất thông thạo tiếng Đàng Trong, người thứ nhất giảng mà không cần thông dịch viên. Thứ ba ông đã xử dụng từ điển Việt Bồ của Gaspar d’Amaral và từ điển Bồ Việt của Antonio Barbosa, cả hai đều là người Bồ.


Trong lời đệ lên các Hồng Y Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Đắc Lộ còn cho biết, ông khởi công viết từ điển Việt Bồ, nhưng về tới Roma, các vị khuyên nên thêm phần La ngữ. Thế là Đắc Lộ đã làm thêm việc này, để cho người Việt không những học tiếng Bồ mà còn học được một thứ tiếng của Giáo Hội Công giáo. Cái ý đồ đào tạo hàng giáo sĩ bản quốc, hẳn đã là động lực chính yếu. Cũng may, bởi vì nếu chỉ coi phần cắt nghĩa tiếng Bồ thì khá vắn tắt và khô khan. Trái lại phần diễn nghĩa bằng tiếng Latinh mới thật là kho tàng các kiến thức cho người ta đi sâu vào con người Việt Nam, Xã hội Việt Nam với những phong tục, những tin tưởng, những dị đoan mê tín, những điều kiện sinh sống lịch sử, xã hội và văn hóa, như chúng tôi sẽ vắn tắt nói đôi chút ở sau đây:


Theo như những gì chúng tôi đã nói về Phép Giảng, thì ở đây chúng tôi sẽ bàn giải về hai điểm chính này: Tiếng Đàng Trong trong Từ Điển và Xã hội Việt Nam qua Từ Điển.


1. Tiếng Đàng Trong trong Từ Điển


Như đã viết thế nào trong Phép Giảng, thì trong Từ Điển, Đắc Lộ phần nào cũng vẫn giữ một lối như vậy, thí dụ: CHÊN:


bại chên, bàn chên, bỏng chên, bít chên, blái chên, blẹo chên, blẹt chên, bớp (bắp) chên, mắt cá chên, chên tay người, chên chàng, chên (thật), chên, xem chên, co chên, cổ chên, làm dịu chên, duỗi chên duỗi tay, chên đạp gai, đau chên, chên đơng, ê chên, gẹt tay gẹt chên, chên phải giàm (dằm), giậm chên, giập chên giập tay, giun chên (run), giụn chên, hỏng chên, khiễng một chên, kì chên tay, lệch chên, què chên, lết chên, móng chên, đi mau chên, mỏi chên, nặng chên nặng tay, chên đạp gai, ngón chên, nhón chên lên, nhượng chên, què chên, sống chên, người chên tay Chúa, tê chên, theo chên bắt chước ai, trại chên, tlợt chên, trượt chên, ướm chên, xóng chên xóng tay, xo chên, xóc gai vào chên, đi xung xăng, mau chên cùng nghĩa. Như vậy chúng ta có tới chừng năm chục chên và ba lần chin.


Tới chữ dên, có mấy chữ như trị nhân dên, làm rối cho dên, còn đều viết dân tất cả: dân, khốn dân.


Chữ đất, viết đất chừng hơn ba chục lần, còn thì chỉ dưới 10 lần viết đết: mặt đết, đức Chúa blời phủ đết phủ muôn vật, thiên viên địa phương: blời tlòn đết bvuâng, cồn đết, đào đết, đất: người khác đết, đết xem đất.


LÊNH hồn:


lênh thieng, lênh nhiệm, cập chư lênh thần.


MềNH:


một mềnh, tôi đi một mềnh; bvợ mềnh, đánh mềnh, mình xem mềnh.


NHệT:


nhệt bổn, sinh nhệt, nhệt thực.


NHịT:


ngày (người khác viết nhệt, nhịt bổn, lư cào; lơu càu = nhệt bổn.


NHIN:


bần nhin, chúc kì hậu nhin (truiền cho kẻ đời sau), nhin đức, hậu nhin, Qui nhin Nước Mặn, mộc nhên, môi nhin, nhin (người), kẻ bần nhin, xá nhin; nhin sâm, nhin đức, nhin nghĩa, nhin thay, nhin thể, nhin, môi nhin; nhin vì sự ấy, nhin sao, nhin danh cha; nhin sâm, nhin sao; nhên nghĩa; vô sát nhên, chớ giết người; thiên sinh nhin, nhin thành thiên; tiểu nhin, thấp í; tiểu mọn, tiểu hàu, tiểu nhi; thiên khai ư tí, địa tịch ư sờu, nhên sinh ư dần, thien địa nhên vật, nhin vì sự ấy, xá nhên.


NHíT:


đệ nhít, thứ nhít; đồng nhít thể; giữ lễ nhít; nhị, hai, vô nhị, nhít; nhít, một, thứ nhít, nhít nhin; nhít, rứt nhít, nhít thien hạ, nhít mlời; nhít phu nhít phụ, một chồng một bvợ; thứ nhít. Về phụ âm, dĩ nhiên, chúng ta có chữ Bêta, có BL, ML và TL. TL Đắc Lộ viết thêm là có nơi người ta đổi thành R để đọc TR. Và thực ra Từ Điển còn một số từ viết TR.


Về các nguyên âm thì chung chung, như những gì chúng tôi đã viết về chữ quốc ngữ trong Phép Giảng.


Có một điều phải để ý là khi soạn Phép Giảng, Đắc Lộ chỉ được chọn một lối phát âm mà chúng tôi gọi là tiếng Đàng Trong, nhưng khi viết Từ Điển, ông có thể ghi cả hai lối phát âm, nghĩa là cả tiếng Đàng Trong và Đàng Ngoài, thí dụ đất và đết. Khá nhiều chữ ông viết idem (cùng nghĩa), alii (người khác), melius (tốt hơn), vide (xem).


Thí dụ:


bươm x buam


buôn x buân


buốn x buấn (vốn)


buồn x buần


buổn x buẩn (bổn, bản)


buông x buâng


bvuông bvức x bvuâng bvức


bươu x bơu


chuông x chuâng


chuồng x chuầng


chuộng x chuậng.


Người ta có cảm tưởng là ông đã viết như ở cột thứ hai, hoặc ông vẫn chủ chương viết như thế hay ông đã ghi tiếng Đàng Trong như thế, nay ông ghi thêm tiếng Đàng Ngoài đối chiếu với tiếng Đàng Trong. Cách ghi này thì nhiều hơn lối ghi thứ hai:


lưấi x lưới


luẫi x lưỡi


lưâng x lương


luôn x luân luộn x luận.


Về cách thứ hai chúng tôi ghi thêm: muấi x muối, muãi x muõi; miâx m ốu,nm ãm ạ u iu nu nuxnmxôm,ố


,umnậx mxọn, muấn x muốn, mưận x mượn, muâng x muông, mưầng x mường (mườnô gt ơưgn. ưónn ữmgờtg ẻưpng).


Có xhdnố từ lẻ tẻ như: dút x dốt, dờ Ààng, sinh x sênh, hứng x Chúng tôi thiển nghĩ có thể tìm tòi thêm và định đoạn được cái cốt, cái lõi tiếng Đàng Trong mà Đắc Lộ đã học từ năm 1624 với Fr. de Pina, với Raphael người Đàng Trong, để rồi sau khi đã học thêm được cách phát âm của người Đàng Ngoài trong thời gian ông ở Kẻ Chợ và vùng lân cận, nhất là nhờ vào tác phẩm của Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa viết tiếng Đàng Ngoài, ông đã bổ túc, chứ không sửa chữa.


Vì theo chúng tôi, nếu ông sửa chữa theo tiếng Đàng Ngoài tất cả thì là một tai họa vì không còn để lại cho chúng ta một tài liệu vô cùng quí giá - và chúng tôi cân nhắc lời lẽ của chúng tôi - vô cùng quí giá, bởi đã ghi cách phát âm của những miền Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam, Qui Nhơn, Bình Định vào thế kỉ 17. Ấy là chúng tôi mới nói đến cách phát âm, chưa nói tới tiếng địa phương, tiếng Đàng Trong riêng của người Đàng Trong. Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa không có cái cơ may hiểu biết cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Trái lại Đắc Lộ đã có cái "diễm phúc" ấy. Thật là như Xuân Diệu viết:


"Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong


... Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít


Vào giữa mái tranh, giường chõng cột nhà..."


(Xuân Diệu, tháng 6-1960)


Và Hồ Dzếnh cũng viết:


"Cầu Giát giữa đường Thanh Nghệ


Đã nghe chớm giọng đàng trong..."


(Hồ Dzếnh, Cầu Giát, 12-1988)


Chúng tôi xin sang điểm hai.


 


2. Xã hội Việt Nam qua Từ Điển


Tra Từ Điển mà chúng tôi có cảm tưởng như đọc một cuốn Việt nam văn hóa sử cương thế kỉ 17, một Việt nam phong tục, hoặc một cuốn Sổ tay văn hóa thế kỉ 17. Sau đây là mấy đề mục quen thuộc chúng tôi đưa ra trình bày để chúng ta cùng thưởng thức. Và trước hết, chúng ta thấy nói tới một số nhạc khí cổ truyền.


Nhạc khí cổ truyền thì có loại gió: quyển, cái quyển, thổi quyển; kèn, sáo, cái sáo; loại giây: đàn bầu, đàn cò hay đàn cò ke, đàn đáy, đàn hồ, đàn thiết; hoặc loại gõ thì nhiều hơn, có: chiêng, cái chiêng, chuông, đánh chuông; cồng, cái cồng; lệnh, mã ll,,ccni can mõ, phách, hồ phách; sênh, đánh sênh, ống sênh hay sinh; trống, đánh trống, gióng trống, trống cái, trống cơm, lù và hay tù và, xuy hiệu khí. Mớm trống, lấy cơm phết lên trên da trống cơm (còn gọi là phạn cổ).


Chúng tôi còn tò mò xem Đắc Lộ có ghi những chữ tục trong ngôn ngữ Việt Nam thế kỉ thứ 17 và chúng tôi bỡ ngỡ thấy Đắc Lộ rất thanh thản ghi một cách khách quan như một nhà ngữ học chứ không phải một giáo sĩ. Chúng ta có: ỷa (ỉa), đi bến, đi cầu, đi đàng, đi đồng, đi ngoài, đi sông, đại tiện, tiểu tiện. Những từ chuyên môn thô hơn thì có: bẹn, lồn, đoi, dánh (cùng nghĩa), bòi, cạc, dái, hòn dái; dốc, lồn, đoi, bẹn, ke; đéo, đéo mẹ thằng cha; đếch (sinh khí con người); đi lại cùng đần bà, đi lại cùng nhau; địt (rắm, đánh rắm); đụ như đéo; dảy xom xom (nhảy xom xom) là rung động thân xác khi giao hợp, lắp đần bà, lẹo (giao cấu của loài chó); lô, con lô (cơ quan sinh dục của đàn ông), lô ra (đi trần truồng), lỏ (làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu); blỏ (cùng nghĩa); blỏ (vạch cơ quan sinh dục ra), lỏ, lổ; mào, đầu mào (qui đầu hay đầu dương vật); nổ, nổ mềnh, địt (đánh rắm); nuạt (khoái lạc xác thịt), lấy nhau nuạt lắm (khoái lạc quá độ trong giao hợp).


Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 1967 không ghi các tiếng tục, cũng vậy, khi tái bản năm 1977 cũng như 1988, đều loại bỏ những tiếng tục, chỉ năm 1992 tái bản lần thứ tư, có bổ túc, thì mới đưa những chữ tục này vào. Thực ra đây là vấn đề từ ngữ chứ đâu phải vấn đề đạo lí, mà là thứ đạo lí dởm. Đắc Lộ đã đi trước thời gian gần 400 năm.


Nghệ thuật nấu nướng. Vì cơm là món ăn cơ bản nên chúng ta có đủ cách để nói tới nó: cơm chín, cơm cháy, cơm hôi, cơm khê, cơm khét, cơm nguội, cơm rang, cơm thiu; có chan cơm, đơm cơm, ghế cơm, sát cơm, thổi cơm, và cơm. Bánh thì có: bánh chưng, bánh da, bánh dầy, bánh khảo, bánh khô khảo, bánh ngói, bánh khoai, bánh rán, bánh trôi.


Có gạo tẻ, gạo nếp thì cũng có xôi gấc, xôi rền, oản, cốm. Có rượu nếp nữa.


Các món ăn khác thì có: bún, bún thang, chả viên, dưa, chạo, gỏi, ăn gỏi, kho cá, kho thịt, cá khô, cua óp, mắm hay nục nạc, măng, nem, nộm, riêu, bún riêu, cá sống, sứa, tương, thịt nướng và yến sào (món ăn đế vương). Có mật mía và cũng có mật ong.


Cũng ghi trầu cau, têm trầu, nước cốt trầu, hộp trầu, bình vôi; thuốc lào, điếu, hút thuốc, ống điếu, có rượu và có chè (uống nước trà tàu).


Trái cây. Từ điển ghi: bưởi, bí, bí ngô, bvải, chuối, chuối thanh tiêu, cam, cam thảo, chanh, chu biên (?), dưa gang, dưa chuột, dưa bọ; dừa, cây dừa, trái dừa, dừa non, sọ dừa, vỏ dừa; trái dom, trái đào, trái giâu, gấc, dưa hấu, trái hồng, hồng ngâm, thựu lựu, mận, màng tang (xoài ?), me, mè (vừng), mít, nhót, đậu nành, nhãn, trái roi, ruối, san chà (sơn trà ?), cam sành, sen, sim, sung, táo, trám, thị, cây vả, vú vang. Thêm vào đó có: củ ráy, khoai lang, củ lang, khoai từ, củ từ, sắn. Có: mồ coen, mồ hòn (bồ hòn), mồ nâu (củ nâu), trái tlòi (mangue).


Về các thứ rau thì có: rau cần, rau lốt, rau giừa, rau mùi tui, mướp, rau nghể, nghệ, rau ngổ, rau ngót, rau răm, rau thơm, diếp, cải, sam, gền. Có: tỏi, hành, hẹ, gừng, riềng, nhưng không thấy ghi ớt.


Về thủy sản thì có: cá blích, cá buôi, cà cuống, cá chuối, cá dóng, cá hồng, cá mleu (nheo), cá móm, cá mốp, cua, gạch cua, cái hầu, hến, cá hẽo, cá giếc, cá bờn lơn, cái lươn, cá rám, cá sộp, cá sủ, cá thiểu, cá lưỡi trâu, cá trích, cá trê, cá trôi, tôm, tép, tôm càng, ốc, cái ba ba, sứa, sò...


Về gia thú chúng tôi không nói tới, chỉ ghi sáu giống vật gọi là lục súc gồm có bò, trâu, ngựa, dê, chó, chiên. Còn về gà thì Từ điển ghi: gà sống, gà mái, gà chọi, gà nòi, gà thiến, gà gáy cầm giờ cầm canh. Từ điển cắt nghĩa: én là một loại chim mà tổ của nó ăn rất ngon; yến sào là tổ chim nhỏ rất ngon để ăn.


Nhân tiện cùng một lần nhắc tới yến sào thì cũng ghi thêm trầm hương, hương kì nam, quế là ba thổ sản rất quí của Đàng Trong.


Về thú tiêu khiển thì có chọi gà, đánh cờ, đánh cù, thả diều giấy, đánh dồi, đánh bạc, đánh đáo, đánh đu, đi cà kheo, đốt pháo, đốt thăng thiên, đốt ống pháo, đánh qườn, đô vật. Từ điển cho biết có những thú chơi, thú làng, thú chợ: thú ở đây có nghĩa là thói.


Một thú thanh tao hơn cả, có lẽ là thú bắt vè, "đối đáp lại như tiếng vọng những câu thơ người khác ca ngâm", đây cũng là một trong những xuất xứ của ca dao ngạn ngữ. Dĩ nhiên có: hát, truyện hát vì có con hát, truyện hát như kịch hát ngày nay vì thời đó không thịnh hành kịch nói, truyện hát tức kịch hát ngày nay. Không thấy ghi tuồng chèo, chỉ ghi xẩm.


Về các dụng cụ dùng trong nhà trong một xã hội có thể là 99% nông dân, thì thấy khá nhiều: cối xay, rê thóc, rê gạo, đấu, bị, đòn gánh, gáo, gầu (tát nước), dần (gạo), chiếu, chiếu gon, hái, nồi hông, cái khoan, cây liêm, liềm, lồng bàn, lồng đèn, cái mác, cái mâm, mẹt, mỏ cối, nong, nắp hòm, hộp, nứa, nỏ, nồi hai, nồi ba..., niêu, nộm, nơm, dủi, bồ nhìn, nơm, cái nơm, nón, phẩn (để nấu rượu), thớt, thuổng, thùng, thúng, quang gánh, quạt vả, rá, rế, rìu, rổ, rọ, rớ bắt cá, rựa, te (bắt cá), vò, xích chó, xiên nướng thịt, xiết (đánh cá) hay dủi...


Về cách ăn mặc thì cũng khá đơn giản, chúng ta thấy ghi có: áo bầu tay, áo cộc, áo dài, áo đan (đơn), áo lót, áo kép, áo mền, áo nâu, áo ró (thứ vỏ cây), áo rum (hoa đỏ), áo the, áo tơi, áo trễ (trễ vai). Hẳn có áo lụa vì nói tới lụa và tơ kén, tơ tằm. Không thấy ghi quần mà có ghi khố. Nhưng có xống (quần), xống ngô, xống đần bà.


Về nhà ở không có gì ghi chú, Từ điển viết rà, dà, nhà như thể ba cách đọc hay cách nói về nhà. Có một chi tiết hi hữu là lỗ lầu, tức một "cái lỗ trong nhà dùng để của cải lúc hỏa hoạn". Nói lầu tức nhà sang trọng giầu có, còn nhà bình dân thì nghèo nàn, làm gì có của để giữ khi cháy nhà.


Về cách ăn nói, trong Khái luận Đắc Lộ đã giải nghĩa phải xưng hô thế nào cho đúng phép lịch sự, phép xã giao ở một nước theo Khổng giáo lấy chữ lễ làm đầu. Cho nên ông bàn giải khá cẩn thận về cách nói nhất là với những kẻ quyền quí mà ông lui tới, cả ở Kẻ Chợ Đàng Ngoài cả ở phủ chúa Đàng Trong. Đó là những lời mở đầu như: tâu bvua vạn tuế, dọng chúa muôn năm, thân đức ông muôn tuổi, bạch đức thày, tôi chiềng ông, chiềng thày: "thân ông, tâu bvua, dọng chúa, bạch thày, chiềng ông".


Vì là một nước trọng chữ nghĩa thánh hiền, cho nên muốn tỏ ra mình cũng hay chữ nghĩa, cũng biết một vài câu kinh sách, nhất là giáo sĩ tự xưng là Tây


dương sĩ hay Tây sĩ (như ở bên Tàu Ricci đã dùng) thì cũng nên trưng ra một vài thí dụ: sinh kí tử qui, hữu sinh hữu tử, thqêi iữn điahphữu t,,ttiên phù địa tải, tạo thiên lập địa, thiên sinh nhin nhin sinh thiên, thông thiên địa nhin bviết nhu, sinh tử bất kì.


Về thuốc nam Đắc Lộ viết trong Hành trình một chương ca tụng thuốc dân tộc và nói mấy chi tiết về ngành thuốc rất hay. Xem ra ông chịu thuốc nam hơn thuốc tây. Trong Từ điển, ông chỉ viết sơ qua: thuốc, thuốc the, thuốc hiệu, thầy thuốc, sắc thuốc, bã thuốc, phải thuốc, thuốc mát dạ, thuốc mạch. Không thấy nói tới châm cứu, cũng như Borri rất mê thuốc nam mà cũng không đề cập tới châm cứu (để cho các nhà lịch sử ngành châm cứu ở Việt Nam để ý), tuy có chích, có chích giác. Đắc Lộ nói tới một lương y mà người ta thờ đó là Phạm Nham "một thày thuốc Trung Hoa mà người ta thờ kính cách mê tín". Thực ra đây là Nguyễn Bá Linh, người Trung Hoa lai Việt Nam, rất giỏi về pháp thuật, sau bị tội thông dâm nơi cung phi nhà vua, nên bị bắt chém nơi quê mẹ ở Hải Dương.


Có một liều thuốc dân tộc Đắc Lộ đã học được, đó là thuốc chống say sóng biển. "Mổ bụng con cn ớb ểấ. "ấổ bon áoc nátlon lấy mấy con cá co ắc chút hồ tiêu và ăn trước khi bước xuống thuyền. Thế là tức khắc dạ dầy cứng cát khoẻ mạnh, đi biển không sợ say sóng" (Hành Trình và Truyền Giáo, q.2 ch.14). Thật là một liều thuốc nên mách bảo cho các thuyền nhân boat people ngày nay.


Về cách học, Từ điển cho biết những chi tiết mà tác giả đã dài giòng diễn giảng hay bình luận ở các tác phẩm khác của ông. Ông cho biết và phân biệt chữ là chữ nho, còn chữ Việt là chữ nôm (đúng ra không phải là chữ). Chữ rẻ là chữ dễ, chữ mắc là chữ khó. Cái óc khinh nôm trọng chữ, nôm na là cha mách qué được nói trong định nghĩa: nôm là chữ mà người Annam quen dùng để viết phương ngữ thông dụng, họ dùng thứ chữ đó để viết thư từ thông thường và người Trung Hoa không hiểu được. Nói nôm: nói phương ngữ thông dụng trong xứ và trong đại chúng. Dĩ nhiên còn những tờ bồi văn khế thi vẫn là chữ nhu.


Tổ chức học đường và thi cử cũng được đề cập tới: có tràng thi, nhà thi, có hội thi, hương thi, có đỗ đạt để thành ông tú, ông chiêu, sinh đồ, hương cống, trạng nguyên (bậc cao nhất), hoàng giáp (cấp bốn), tấn sĩ.


Khổng Tử được nói tới với những danh hiệu: Ông thánh, thánh hiền với lí luận ông đã viết trong mấy tác phẩm khác, để bài bác cái danh hiệu thánh hiền. Theo ông, nếu không biết Thiên Chúa thì sao gọi là thánh được. Nếu biết mà không dạy cho người khác biết thì cũng không thể là thánh được. đây cũng như ở mục nói về đức Phật, Đắc Lộ cũng có những phán đoán chủ quan như thế. Dẫu sao chỉ kẻ thông biết trời, đất, người, mới được kể là nho sĩ: thông thiên địa nhân viết nhu.


Có một vài chi tiết cho chúng ta thấy cách học chữ nho như chấm vòng, chấm cu (câu), nghiên (mài mực), cách vinh qui của các ông nghè: mũ áo ngất blời, thắt thao, cởi thao, cửa khổ. Đắc Lộ viết: cửa khổ là cửa vòng cung mà các vị vừa nhận cấp bậc tiến sĩ đi vào. Theo chúng tôi, đây chỉ là một lối chế giễu, nhại lại lời nói "cửa Khổng" bẻ thành "cửa khổ" chăng? Dù sao, Đắc Lộ cũng có lời khen và nhận Khổng Tử là bậc hiền triết viết sách dạy cách trị dân, trị nước và làm người công dân tốt. Đắc Lộ chỉ từ chối danh hiệu "thánh", "thánh hiền" hiểu theo nghĩa Kitô giáo mà thôi. Lời giải nghĩa "Khổng, Khổng Tử" trong Từ điển là một bằng chứng hùng hồn và rất hay.


Tam giáo gồm có Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo. Nói chung Đắc Lộ tỏ ra hiểu biết và nhân nhượng hơn đối với Khổng giáo là đạo các nho sĩ, còn Lão giáo được ông gọi là đạo của các thày phù thủy; còn về Phật giáo vì bị gò bó trong thần học hẹp hòi thế kỉ 17 nên ông tỏ ra ít hiểu biết nhất. chữ Thích Ca ông cho biết đức Phật sinh ở Thiên trúc quốc (Ấn độ), thân phụ là Tịnh Phạn Vương, mẹ là Mada phu nhân, vợ là Dadu phu nhân, con là Lí Thiên Vương, học với Atala và Catala trên núi Đàn đạt, mất ở rừng Sala, khoảng 1000 năm (thực ra là 500 năm) trước đức Kitô ra đời, vào thời vua Trung Hoa Chu. Chúng tôi chưa có dịp kiểm lại những lời lẽ của Đắc Lộ. Tựu trung, ông không nể lời khi đưa ra những phán đoán.


Lịch các ngày lễ hàng năm được ghi với lời cắt nghĩa ngắn gọn. Trong Lịch sử Đàng Ngoài Đắc Lộ viết nhiều hơn. Người ta biết vào cuối năm có sấp ấn (đóng cửa tòa án) để rồi vào khoảng mồng 10 thì mới khai ấn, rồi có ba ngày tết nguyên đán, ăn tết ba ngày, lễ tiên sư, tết các thày, mừng tuổi cha mẹ, các kẻ bề trên; có lễ giao, nhà bvua ra đàn Nam Giao tế trời, rồi sau đó cày (tịch điền), vào rằm tháng tám có lễ trung thu, lễ đoan ngũ, mồng năm tháng năm. lễ đoan ngũ này người ta lấy quả ké cài trên đầu để cho được sống lâu. Ngoài ra còn có lễ khánh đản, mừng vía chúa, ăn vía, cần vía là "một thứ cần người không tin đạo (lương dân) cho rằng hồn của nhà vua ngự trong đó khi họ tổ chức nghi lễ mê tín mà họ gọi là lễ rước hồn của nhà vua".


Vào tháng cuối năm tháng chạp, thường có nhiều lễ giỗ, cúng tế, cho nên cũng thường gọi là giỗ chạp.


Trong lịch cũng ghi các ngày xẩy ra nhật thực, nguyệt thực để cả triều đình cả toàn dân sửa soạn làm nghi lễ đuổi con rồng ăn mặt trời, ăn mặt trăng. Về hôn nhân, Từ điển cho biết có những nghi lễ đi hỏi vợ, ăn cheo, đưa dâu, ăn cưới, đi cưới, nhẫn đeo tay, (chúng tôi chưa dám quyết là một việc thuộc nghi lễ hôn nhân). Đắc Lộ hơn một lần nhắc tới việc để vợ, rãy vợ (li dị) với sự thoả thuận tương hỗ: hai người bẻ đũa, bề tiền thành hai mảnh và mỗi người giữ một mảnh làm bằng chứng.


Về tang ma thì có những việc khi khâm liệm, khăn liệm ở đầu là thượng khâm, ở dưới là hạ khâm. Có cách nói làm ma, cất ma, bởi vì theo tin tưởng thì sống làm người, chết thành ma. Đám tang thì gồm có minh tinh, cờ, trướng, có nhà xe, nhà táng, có đô tì khiêng áo săng, trừ khi người quá nghèo chỉ bó mo bó chiếu. Lại còn vàng mã, đốt mã, nhà mãi (đốt nhà mãi). Còn để ý tới tục để mả để cho phát mả, mả đáng phát quan vì nếu không thì có mả mạt không làm cho người ta phát đạt, làm quan làm lớn được. Tục để tang cũng khá phức tạp: trung tang ba năm, với bố mẹ và chồng, trong thời gian này không được cưới hỏi hay có lễ khác. Khi để tang thì đàn ông không cắt tóc, đàn bà thì cắt một phần tóc, nhất là khi để tang chồng cho nên thường nói tang tóc. Chúng ta khó kiểm soát thực hư, nhưng được biết là thời xưa, trong khi có đại tang thì phải để tóc dài vì không được sửa sang, chải chuốc, cho đến xỉa răng cũng không được làm. Việc làm lễ giỗ cũng phải tôn trọng không kém việc để tang để tóc, thường nói làm hè. Đắc Lộ còn ghi những mê tín dị đoan khác như chiêu hồn, gọi hồn, như chữa trung tang liên táng: Pháp sư làm phép này để cho người chết không lôi cuốn những người khác chết theo mình; nếu trong giòng họ máu hoàng thân chết trong thời để Àaâg thìtxtcongưtiờc ếể tịnq ậhì xác người chết bị quật lên và cũng chưa được táng, cũng không được ăn uống n gtkưông đệợv nncunn ếhn ưhiờng lệ vẫn cúng tế ngườc ng huyết thống lại chết theo.


Về quân sự, chúng tng, súng binh, súng tay, súng bắn, súng gang, súng đồng, đã có đúc súng, tập bắn, tập ngựa và quản voi. Borri nói nhiều về việc dùng voi cho ra trận như thiết giáp thời nay. Dĩ nhiên có hải đạo, chiến thuyền lớn rất hùng mạnh.


Chúng tôi không nói nhiều về cách tính tiền, viả tiền, quan tiền, tính lạng, lượng. chữ tiền (tièn), Đắc Lộ viết 4 cột sách để giải nghĩa rõ ràng. chữ lượng, có cắt nghĩa, từ một, hai cho đến chín, tới mười thì là nén. Hơn nữa Đắc Lộ cho biết: một lượng vàng nặng vào khoảng mười một "Juliô" hay gần bằng một "once" rưỡi. Ông lại thêm: "một lượng bạc tương đương với khoảng 11 Juliô Rôma". Khi tính với người Bồ, người Tàu thì không tính bằng 60 mà 100, bắt đầu từ người Nhật: 1 tiền, 60 tiền = quan.


Về cách tính năm, tháng, ngày, giờ, thì Đắc Lộ cẩn thận viết ở chữ giờ


ẳh nh nhv tiết ty ỉi iẩ ủh naittnế hỉnm. aGiờ của ta tínhât àì một ngày 12 giờ, chứ không tính 24 giờ. Ông chỉ rõ từ giờ nào đến giờ nào thì là giờ mẹo và cứ thế cho 12 tên giờ hồm, mẹo (mão), rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn, chuột, tlâu, tương đương với dần, mậu, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, tí, sửu. Nên chú ý về cách viết mấy từ như hồm (dần), mẹo (mão), đinh mẹo, giờ mẹo; nhâm than, giờ than (thân); giáp tuít, giờ tuít (tuất), ớt hợi (ất hợi), giờ hợi, chuật (chuột), giờ sữu, ất sữu. Như vậy, mỗi năm, mỗi tháng, mỗi giờ đều có tên như thế: năm tí, tháng tí, giờ tí... Một chu kì gồm 60 năm được làm thành như một "thế kỉ", sau đó lại là một chu kì 60 năm tiếp.


Thực ra Đắc Lộ cũng chỉ đưa ra một danh sách kết hợp các can, chi và nhất là cho biết tên gọi bình dân về năm, tháng, ngày, giờ, chứ chưa cho biết cách xếp đặt 10 can (thiên can) và 12 chi (địa chi) thế nào để thành một chu kì 60 năm, thường gọi là lịch "can chi" hay "giáp tí". Sau này Marini viết chiituến tỉ mỉ hơn về vấn đề này.


Cách tính tháng trong năm âm lịch cũng được Đắc Lộ ghi và cắt nghĩa. Vì theo mặt trăng nên có tháng thừa tháng thiếu, Đắc Lộ viết: tháng no (tháng 30 ngày), tháng thiếu (tháng 29 ngày). Ông cũng viết tháng giêng, tháng chạp; tháng nhuện khi năm đó có 13 tháng. Nếu là năm nhuận mà lấy tháng hai làm tháng nhuận thì gọi: tháng hai trước, tháng hai sau. Cũng nói đầu tháng và mạt tháng (cuối tháng). Mỗi tháng chia làm ba: thượng (tuần), trung (tuần), và hạ (tuần).


Đất nước Việt Nam. Từ điển cắt nghĩa Annam là "sự yên tĩnh của phía nam để gọi toàn thể Đàng Ngoài và Đàng Trong". Các giáo sĩ đến nước ta vào thế kỉ 17 thì đều công nhận có thống nhất lãnh thổ, tuy lúc này tạm chia đôi Đàng Trong và Đàng Ngoài. chữ nước, nước Annam Đắc Lộ cắt nghĩa là vương quốc Đàng Trong và Đàng Ngoài.


Đàng Trong được kể từ ranh giới phía bắc cạnh Đàng Ngoài cho tới ranh giới nước Chàm. Đàng Ngoài thì gồm bốn tỉnh chung quanh thủ đô đó là nói chung chung. Từ điển còn ghi Đàng Trên là miền núi, có thể hiểu là Cao Bằng chăng?


Có thể vì thế mà thường nói ra Bắc (vì là Đàng Ngoài) và vào Nam (vì là Đàng Trong).


Thủ đô là Kẻ Chợ, cũng gọi là Tràng An, là kinh đô, trung đô, kinh kì, trong số 36 phố phường của Kẻ Chợ, Đắc Lộ cho biết có các hàng phố, phố hàng bát, phố hàng bè, hàng gai, hàng đồng và trong số các cửa ô của Thăng Long, Từ điển ghi ô cầu Giền, ô Đống Mác mà ông viết là cầu Giền, ông Mác. Còn Quảng Bố hẳn là Quảng Bá ngày nay, nằm cạnh bờ đê và Hồ Tây. Một thị xã mà Đắc Lộ không thể quên được vì là nơi ông đặt chân lên đầu tiên đất Đàng Ngoài, đó là Thanh Hóa có Cửa Bạng. Hai lần ông viết là Thinh Hoa, cũng còn viết là Thinh Huê. Có một chi tiết ông cho biết khá lí thú đó là: "chính tỉnh này đã phát xuất chúa Đàng Ngoài, cũng như chúa Đàng Trong và cũng rất nhiều người quyền quí khác ở triều đình Đàng Ngoài và Đàng Trong". Chúa Đàng Ngoài lúc này là Trịnh Tráng, còn chúa Đàng Trong là Nguyễn Phúc Nguyên cả hai đều là người xứ Thanh.


Từ Đàng Ngoài, phải qua Nghệ An rồi mới tới Bố Chính. Gọi là Chu Bố Chính. Đắc Lộ còn cho biết vì Bố Chính không có đủ điều kiện, nên không được gọi là xứ, mà là chu. Theo sử ta thì Bố Chính mấy lần bị người Đàng Trong xâm chiếm rồi có lúc Bố Chính chia đôi, bắc thuộc Đàng Ngoài, nam thuộc Đàng Trong.


Đàng Trong, chúng ta có Hóa, Kẻ Hóa, thoận hóa mà người Bồ gọi là Sinua; Kẻ Hóe, cũng một nghĩa; rồi tới Kẻ Quảng. Đó là hai "xứ Thuận Hóa, Quảng Nam" mà năm 1570 Nguyễn Hoàng nhận lãnh từ tay vua Lê: "Thuận Hóa có 2 phủ, 9 huyện, 3 châu, còn Quảng Nam thì có 3 phủ, 6 huyện".


Quảng Nam thì có Cửa Hàn hay Hoài Phố tức Hội An. Cửa Hàn là hải cảng ở Đàng Trong mà người Bồ gọi là Tu-ran, còn Hoài Phố là một làng trong xứ Đàng Trong mà người Nhật ở và gọi là Faifô. Như thế có thể có nghĩa là ở Hội An có những khu dành cho người Nhật, người Trung Hoa, người Bồ như Borri đã cho biết.


Sau hải cảng Hội An thì tới hải cảng lớn thứ hai là Qui Nhơn mà Đắc Lộ viết là Qui nhin, có thị xã Nước Mặn. Vào tới gần ranh giới Chiêm Thành thì có Phú Yên mà Đắc Lộ viết là Ràn Ràn, Phú Yên mới được sáp nhập vào Đàng Trong từ cuối đời Nguyễn Hoàng, năm 1611 (coi Thực Lục tr. 43).


Những nước láng giềng thì ở phương bắc có Đại Minh, Đắc Lộ cắt nghĩa là lớn và sáng. Nhưng cũng có người gọi là Nước Ngô (cũng theo Đắc Lộ) nhưng ở chữ Ngô, nước Ngô thì Đắc Lộ cho biết đây là cách nói khinh bỉ, cũng như cách nói thằng Ngô thì cũng hiểu như vậy [6]. Nước Chiêm Thành còn được gọi là Trì Trì hay mlô. Về phương Tây thì có Lào, Nước Lào và tây naa àh, Nó Cao Miên.


Trên bản đồ Đắc Lộ cho in năm 1650 và 1651, có nhiều địa danh hơn, và đủ chi tiết hơn, còn trong Từ điển chỉ nói tới vài ba nơi trong mỗi miền, mỗi xứ mà thôi. Thí dụ Đắc Lộ ghi ở miền núi dãy Trường Sơn, ở đây có người Mọi, còn trong Từ điển ông cắt nghĩa Rợ mọi là rừng hoang vu, đứa rợ mọi là người rừng.


Lịch sử thời kì Đắc Lộ lưu trú ở Việt Nam là thời kì nước ta chia làm hai như chúng tôi đã nói về các nhân vật lịch sử: vua và chúa. Về vua nhà Lê, ông không viết rõ danh tánh mà chỉ ghi Lê, nhà Lê: giòng họ vua Đàng Ngoài mà người ta gọi là vua. Nhưng ở chữ bvua, ông cho chi tiết rõ rệt hơn: bvua Đàng Ngoài, ngày nay chỉ là danh hiệu mà thôi, còn chúa thì sắp xếp mọi việc theo ý mình. chữ nhà bvua, Đắc Lộ viết: gia tộc hay dòng họ của vị vua chỉ có tước hiệu hay danh xưng là bvua. Một biến cố vừa thuộc khách quan vừa thuộc chủ quan hẳn đã làm cho ông ghi nhớ lâu năm. Đó là năm 1629 vì có nạn đói nên vua Lê đã đổi niên hiệu Vĩnh Tộ thành Đức Long. Toàn thư không nói vì lí do nào phải đổi, sử chỉ ghi năm đó "đói to". Còn Đắc Lộ thì cho lí do. Nguyên văn trong Từ điển: "Đức Long tên vị vua mà người Đàng Ngoài gọi là bvua. Vị này có tên trước đây là Vĩnh Tộ. Nhưng năm 1629 vì hạn hán và mất mùa, vua đổi tên và lấy một tên mới là Đức Laong, để cho nước được thịnh vượng hơn; đó là người ương dân nghĩ một cách khờ dại". Đây là vua Lê Thần Tông (1619-1643). Cùng năm 1629 này Trịnh Tráng ra lệnh trục xuất Đắc Lộ.


Tới nhà chúa, Đắc Lộ định nghĩa là người cai trị toàn thể vương quốc mà chúng tôi gọi là rex. Thực ra rất khó dịch từ chúa ra tiếng ngoại quốc. Đắc Lộ dùng chữ "gubernator" là người cai trị, còn ông bắt buộc hoặc dùng nguyên văn chữ chúa hoặc dịch là "rex", với ý nghĩa "chúa" chứ không phải là "vua". Thích thú nhất là khi Đắc Lộ cho thí dụ về chữ đức, đức bvua, đức chúa thì đã dịch ra tiếng Latinh là "rex non gubernans et gubernan" (dịch nguyên văn là vua không cai trị và [vua] cai trị).


Từ điển ghi Thanh Đô Vương là tên riêng ông chúa Đàng Ngoài cai trị thời các cgaàc úng tôi đÀnix áà hu ihđnu ôó lế rứnnày buổi đầu. Đó là Trịnh Tráng cầm quyền từ 1623 tới 1657. Dòng Tên đến Đàng Ngoài năm 1626 với Baldinotti vỎ ă6 66v7icB lĐicoLt. Nàưngmở1 27 có Đắc ộương, vua già Đàng Ngoài. Thanh hay Thinh đều là hai cách đọc của một từ: cách đọc Đàng Ngoài và cách đọc Đàng Trong. Nhưng tại sao lại gọi Trịnh Tráng là chúa già ở đây. Toàn Thư và Thực Lục chỉ ghi năm tháng Trịnh Tráng mất "mùa hạ tháng tư năm Đinh Dậu" mà không cho biết thọ bao nhiêu tuổi. Trái lại Marini viết "Trịnh Tráng mất ngày 26 tháng 5 thọ 82 tuổi". Vậy nếu Đắc Lộ soạn Từ điển vào trước 1640, lúc đó Trịnh Tráng mới 65 cái xuân xanh, còn nếu khi về Roma vào khoảng năm 1650, ông viết thêm thì lúc đó ông chúa này đã 75.


Đàng Trong, mặc dầu Đắc Lộ đã tới vào thời Nguyễn Phúc Ngun Phúc Lan, nhưng t ông chỉ ghi tên Ngu ông chúa đầu t chúa đầu tiên ở Đàng Trong. Năm 1593 Nguyễn Hoàng được vua Lê tấn phong "Đoan quốc công". Do đó dân gian thường gọi nôm na là chúa ông hay ông Đoan.áVc úh n caữ Đna, oông Đìat ếắở ộhg ảo ng ĩna Đoan Đắc Lộ giải nủh Đàng Trong được người ta gọi như vậy khi ông còn sống, nhưng sau khi ông chết thì người ta gọi là Chúa Ông".


Còn mg năm 1629 vì h dê, khỉ, gều răhúa nữa có nói trong Từ điển là chúa Khánh, tên của một tiểu vương trước kia đã chiếm bốn tỉnh Đàng Ngoài, bây giờ ở trên núi giữa Đàng Ngoài và Trung Hoa, mà miền núi đó gọi là Cao Bằng. Đại Việt Thông Sử của Lê Quí Đôn cho biết Mạc Kính Khoan được ngụy phong là Khánh Vương. Kính Khoan mất ở Cao Bằng năm 1638. Như vậy trận nhà Mạc đánh ở Đàng Ngoài vào năm 1627 mà Đắc Lộ kể trong Lịch sử Đàng Ngoài là do Kính Khoan hay chúa Khánh chỉ huy, hoặc ít ra dưới thời Kính Khoan. Các tài liệu của các giáo sĩ thường chỉ viết là Chúa Canh.


Sau nhà vua, nhà chúa thì tới viên quan chính yếu là trấn thủ, cai quản cả một xứ và thường là những xứ rộng mênh mông. Người đầu tiên được cử làm trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Hoàng năm 1545 theo lời xin của Ngọc Bảo với Trịnh Kiểm. Năm 1558 Nguyễn Hoàng bắt đầu vào trấn Thuận Hóa, lúc đó mới 34 tuổi. Năm 1570 thì ông được vua Lê trao cho cả hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Năm 1602, Nguyễn Hoàng đặt hoàng tử thứ sáu làm trấn thủ Quảng Nam, Từ điển chỉ ghi vắn tắt: thủ (giữ), thủ trấn xứ là vị trấn thủ của tỉnh. Dịch như vậy thực ra cũng như không. La ngữ ghi là "Gubernator Provinciae" nghĩa là viên quan cai trị tỉnh gọi là Xứ. Cũng như khi giải thích chữ chúa thì Đắc Lộ cũng dùng chữ "Gubernator". Quảng Nam vào thời hoàng tử Tôn Thất Kì làm trấn thủ Quảng Nam thì người ta gọi ông là ông nghè.


Từ điển cắt nghĩa Nghè là chức vụ của các bậc văn nhân. Nhưng trong triều đình nhà Lê và ở các phủ ông chúa, có đủ các cấp chức mà Từ điển cắt nghĩa vắn tắt:


Nội thần, cậu bộ, thái giám; bộ, cậu bộ: người bị thién, hoạn quan; cạu, cạu bộ.


Quan văn, quan vũ, quan tổng binh.


Đề lểnh, đề đốc, quan tổng cán, đi cán, lệnh sử, xá nhin.


Một chức quan trọng là quan tư thiên, thiên văn; quan tư thiên soạn lịch hàng năm và ghi các nhật thực, nguyệt thực. Cũng có các người làm thông dịch viên gọi là thông sự, có các người sẽ gửi đi làm đại sứ trong bộ ngoại giao gọi là sứ, đi sứ. Có các tước quận công, quốc công: quan đệ nhị sau vua. Có một từ rất hi hữuum. Cắ Lộ cắt nghĩa như sau: tứ vệ là lính của vị mang danh hiệu vua mà không cai trị, lính của bvua [7].


Các cơ quan hành chánh thì có nha ti (tòa án cao cấp cho mỗi tỉnh), nha hiến (tòa án cấp hai nhưng xử án cho toàn tỉnh), nha đại (tòa án cấp hai xử án cho toàn cõi), nha phủ (tòa án của mỗi phủ, một trong những đơn vị mà tỉnh được chia ra), nha huyện (tòa án của huyện, một trong những đơn vị của phủ được chia ra nhỏ). Ngoài ra còn có chạ mạc cho làng xã.


Theo Thực lục thì năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu theo triều đình Đàng Ngoài mà cho tổ chức tam ti (ba ti) là ti Xá sai coi việc tố tụng, ti Tướng thần lại coi việc thu thóc và phát lương, ti Nội lệnh sử coi các thứ thuế (Thực lục tr. 47).


Về hành chính cho toàn cõi thì có: Xứ, chu, phủ (cai phủ, ông phủ), huyện (nha huyện, cai huyện, ông huyện), tổng (cai tổng), xã, thôn, làng (xã trưởng), xóm, trùm làng, trùm cai, câu dương, tuần vệ, chạ mạc.


Tín ngưỡng. Trên đây chúng tôi đã nói về tam giáo, còn ở đây, sẽ bàn qua về tín ngưỡng, trong đó có tất cả những gì chúng ta thường gán cho cái từ ngữ mê tín, dị đoan. Là nhà truyền giáo thấm nhuần một nền học vấn chính thống và một thần học nghiêm nghị, Đắc Lộ rấ


Gửi bình luận

Họ tên / Email:
Nội dung:
 
ảnh ngẫu nhiên
Video
Audio